Prohexadione-Ca trên táo, lê: kìm đọt non, giảm cháy lá
Prohexadione-Ca ức chế gibberellin, kìm đọt non trên táo, lê và liên quan đến giảm cháy lá (fire blight). Tóm tắt cơ chế và cách dùng theo tài liệu khoa học.
Ở vườn táo và lê, đọt non mọc quá mạnh gây hai rắc rối cùng lúc: tán rậm, thiếu sáng, tốn công tỉa, và đọt mềm là nơi vi khuẩn gây bệnh cháy lá (fire blight, do Erwinia amylovora) dễ xâm nhập. Prohexadione-Ca là chất ức chế sinh trưởng được dùng để xử lý đúng điểm này. Bài này tóm tắt cơ chế và cách dùng theo tài liệu của khuyến nông đại học và các công trình khoa học đã công bố.
Cơ chế: chặn gibberellin và đổi hướng chuyển hóa flavonoid
Prohexadione-Ca ức chế các enzyme dioxygenase cần chất đồng cơ chất 2-oxoglutarate. Hợp chất này bắt chước 2-oxoglutarate nên chen vào vị trí đó, làm giảm tổng hợp gibberellin (GA), kết quả là đốt ngắn lại và đọt ngừng vươn dài. Đó là phần kiểm soát đọt non, có thể quan sát bằng mắt.
Phần thứ hai ít người biết hơn. Roemmelt và cộng sự (1999, Acta Horticulturae 489) cho thấy hợp chất này không diệt trực tiếp vi khuẩn cháy lá. Thay vào đó, trong vòng bốn giờ sau xử lý, mô lá và hoa của táo đã tạo ra một flavonoid chưa từng thấy ở táo (tạm xác định là luteoliflavan), đồng thời eriodictyol tích lũy. Nhóm tác giả cho rằng nguyên nhân cũng là sự ức chế dioxygenase, lần này trong con đường flavonoid.
Spinelli và cộng sự (2006, Acta Horticulturae 704) đi tiếp: tiền chất không bền của luteoliflavan là luteoforol, và trong phòng thí nghiệm chất này ức chế mạnh nhiều dòng E. amylovora, hoạt tính cao hơn 10 lần so với hai phytoalexin có cấu trúc gần là luteolinidin và apigeninidin. Các tác giả đề xuất luteoforol được giải phóng khi mầm bệnh tấn công. Cũng cần ghi rõ: thí nghiệm này ghi nhận độc tính với cây lê con, và kết quả trong ống nghiệm chưa đồng nghĩa với hiệu quả ngoài vườn.
Hiệu quả kiểm soát đọt non theo số liệu thực địa
Bài của Tom Kon (Khuyến nông Đại học Bang North Carolina) mô tả một thí nghiệm năm 2019 trên táo Golden Delicious ghép M.111. So với đối chứng, chiều dài đọt giảm 44%, khối lượng cành tỉa giảm 63%, năng suất tăng 49% (lô này có đợt ra hoa năm sau yếu) và khối lượng trung bình quả giảm 19%. Nghĩa là kiểm soát đọt có thể đổi bằng quả nhỏ hơn, nên chương trình tỉa thưa quả cần được tính lại.
Ở New Zealand, Dayatilake và cộng sự (2005, Acta Horticulturae 694) phun Regalis khi đọt dài 1 cm, rồi lặp lại sau mỗi 4 tuần. Đọt giảm rõ rệt, tán thoáng hơn, quả lên màu đỏ tốt hơn, đậu quả, cỡ quả và tỷ lệ xuất khẩu không đổi đáng kể, phấn trắng giảm.
Giảm cháy lá: thời điểm quyết định
Cũng nghiên cứu của New Zealand cho thấy cháy lá ở chùm hoa không giảm, có thể vì phun quá muộn trong vụ. Norelli và Miller (2006, Acta Horticulturae 704) nhấn mạnh cùng ý ở vườn táo non: muốn kiểm soát bệnh phải kìm đọt sớm trong mùa. Hai lần phun 125 mg/l cân bằng được cả kiểm soát bệnh lẫn sinh trưởng tốt hơn ba lần trở lên ở 63 hoặc 30 mg/l; các mức thấp cho phép đọt mọc nhiều hơn lúc đầu thì kiểm soát kém. Tác giả kết luận 1 đến 2 lần phun 125 mg/l có thể kiểm soát cháy lá ở vườn năm thứ 4 đến thứ 6 khi nguy cơ cao.
Cách dùng theo tài liệu khuyến nông
Các số dưới đây là khuyến cáo theo nhãn và khuyến nông tại Mỹ cho sản phẩm Apogee/Kudos, không nên áp thẳng cho điều kiện khác; luôn theo nhãn của sản phẩm được phép tại nơi trồng.
Bắt đầu khi đọt dài 1 đến 2 inch (khoảng 2,5 đến 5 cm); chuỗi phun bắt đầu muộn hơn thì kém hiệu quả.
Khoảng khuyến cáo chung 3 đến 12 oz kèm 1 pint chất bám dính không ion cho 100 gallon nước. Lịch hai tuần một lần dùng 6 oz/100 gal; lịch một tháng một lần dùng 6 đến 10 oz/100 gal.
Không phun muộn hơn 45 ngày trước thu hoạch; tổng tối đa 99 oz mỗi acre mỗi vụ.
Không pha chung với canxi clorua, canxi nitrat hoặc bo; nước cứng cần thêm chất làm mềm nước.
Giống chín sớm như Gala có thể cần một lần phun sau thu hoạch để kiểm soát cả vụ.
Lưu ý an toàn
Đọc nhãn, mặc đồ bảo hộ, đeo găng và kính khi pha; tuân thủ thời gian cách ly ghi trên nhãn.
Quả đậu nhiều hơn có thể nhỏ đi, cần tỉa thưa mạnh tay hơn.
Thử trên một vài hàng trước khi phun cả vườn.
Chất này không thay thế vệ sinh vườn, cắt bỏ cành bệnh và các biện pháp phòng bệnh khác.
Tóm lại
Prohexadione-Ca ức chế GA và đổi chuyển hóa flavonoid, vừa giảm đọt vừa liên quan đến giảm cháy lá.
Hiệu quả với cháy lá phụ thuộc kìm đọt sớm; phun muộn có thể không giảm bệnh.
Cái giá có thể là quả nhỏ hơn, cần điều chỉnh tỉa thưa.
Liều ghi trong bài là khuyến cáo ở Mỹ; dùng theo nhãn tại địa phương.
Cần tư vấn chọn chất điều hòa sinh trưởng phù hợp, nhà vườn liên hệ CVGreen qua số tư vấn trên website. Với các chất ức chế sinh trưởng khác, nhà vườn có thể xem paclobutrazol và chlormequat tại CVGreen.
Tài liệu tham khảo: Kon T., Prohexadione calcium to manage tree vigor, Khuyến nông Đại học Bang North Carolina; Roemmelt S. và cs. (1999), Acta Horticulturae 489; Spinelli F. và cs. (2006), Prohexadione-calcium induces in apple the biosynthesis of luteoforol, Acta Horticulturae 704; Dayatilake G.A. và cs. (2005), The use of prohexadione-Ca for improved crop management, Acta Horticulturae 694; Norelli J.L., Miller S.S. (2006), Using prohexadione-calcium to control fire blight in young apple trees, Acta Horticulturae 704.
Ảnh minh họa: Sebastian Stabinger, Wikimedia Commons (CC BY-SA 3.0).
Apogee CVGreen Regalis cháy lá táo chất ức chế gibberellin fire blight kiểm soát đọt non lê prohexadione calcium táo