Bỏ qua tới nội dung chính
Miễn phí vận chuyển đơn từ 800.000đ (đơn hàng nặng: từ 80.000đ/kg). Đơn chưa đạt: phí vận chuyển theo thực tế.

Trinexapac-ethyl chống đổ ngã lúa mì, lúa mạch: thời điểm, liều

Kỹ thuật hoóc-môn sinh trưởng

Ruộng lúa mì bị đổ ngã sau mưa lớn

Trinexapac-ethyl chặn bước tạo GA1 làm lóng ngắn, thân chắc. Thời điểm phun theo Zadoks, liều đã thử trên lúa mì, lúa nước, cách phối với chlormequat và rủi ro khi cây stress.

Lúa mì, lúa mạch thâm canh bón đạm cao, gieo dày rất dễ đổ ngã khi gặp mưa gió. Theo Bộ Nông nghiệp Alberta (Canada), đổ ngã có thể làm giảm năng suất ngũ cốc 7–35%, nặng nhất khi cây đổ trong 20 ngày sau trỗ. Trinexapac-ethyl là chất điều hòa sinh trưởng (PGR) phổ biến để làm cây thấp, thân chắc. Dưới đây là cơ chế, thời điểm, liều đã thử nghiệm và rủi ro.

Cơ chế: chặn bước tạo GA1

Theo tổng quan của Rademacher (2000), trinexapac-ethyl thuộc nhóm acylcyclohexanedione, có cấu trúc giống axit 2-oxoglutaric, đồng cơ chất của các enzyme dioxygenase ở cuối chuỗi tổng hợp gibberellin (GA). Hoạt chất cạnh tranh và chặn các enzyme này.

  • Đích chính là bước 3β-hydroxyl hóa biến GA20 gần như không hoạt tính thành GA1 hoạt tính mạnh. Cây xử lý có GA1 giảm, GA20 tích lại.

  • Thiếu GA1, lóng đang vươn sẽ ngắn lại, cây thấp hơn, thân ít bị bẻ gập khi bông nặng.

  • Dạng ester dễ thấm qua lá, trong cây họ hòa thảo được chuyển nhanh sang dạng axit có hoạt tính, nên hợp với ngũ cốc hơn cây hai lá mầm.

Chlormequat (nhóm “onium”) thì chặn rất sớm, ở enzyme CPP-synthase. Hai chất đánh vào hai điểm khác nhau của cùng con đường nên hay được phối hợp.

Thời điểm phun theo thang Zadoks

Khung GS30–32 tính từ lúc lóng đầu tiên bắt đầu dài ra (đỉnh bông non cách đốt đẻ nhánh ít nhất 1 cm) đến khi đốt thứ hai cách đốt thứ nhất ít nhất 2 cm. GS37 là lúc lá cờ vừa ló.

  • Alberta (2018): với lúa mì, khoảng phun lý tưởng tương tự chlormequat, từ GS30–32 đến GS37.

  • Đại học Minnesota (Wiersma và cs., 2011), lúa mì xuân tại Crookston 2004–2006: phun ở GS37 ít gây tổn thương hơn, cây thấp và đứng thẳng hơn so với GS30 hoặc GS32.

  • AHDB (Anh), giao thức thử nghiệm giống 12/2023: lúa mì vụ đông dùng trinexapac (sản phẩm Moddus) trong khung GS30–32; lúa mạch vụ đông ở GS30, tùy chọn GS31–32 khi đất giàu dinh dưỡng; lúa mạch xuân có thể phun ở GS30 khi dự báo đổ ngã.

Khung thời điểm khác nhau theo cây, vụ và vùng; luôn theo giai đoạn ghi trên nhãn đăng ký tại nơi sử dụng.

Liều đã được thử nghiệm

  • Lúa mì xuân (Minnesota): thử 62,5; 93,75; 125 và 250 g hoạt chất/ha. Liều càng cao cây càng thấp, rơm càng bền. Mức 125 g/ha làm cây thấp khoảng 6%, tăng độ đứng thẳng 9%, độ bền rơm 13%, không gây tổn thương, không chậm chín, không ảnh hưởng năng suất; tác giả đề xuất 125 g/ha ở GS37.

  • Lúa nước (Mississippi): Đại học Mississippi State (Corbin và cs., 2016) thử 12, 24 và 48 g hoạt chất/ha trên giống lúa dễ đổ, phun ở phân hóa đòng (R1) hoặc R1 cộng 14 ngày. Mọi liều đều giảm chiều cao và đổ ngã. Trên đất thịt pha limon, 12 g/ha ở R1 cho năng suất tương đương đối chứng, nhưng phun muộn thì giảm năng suất; 48 g/ha làm giảm năng suất trên cả hai loại đất.

  • Anh: AHDB ghi liều theo sản phẩm (Moddus 0,1–0,2 lít/ha), không theo gam hoạt chất; hàm lượng mỗi sản phẩm khác nhau nên không quy đổi tùy tiện.

Liều thử trên lúa nước thấp hơn hẳn lúa mì; không đem liều lúa mì áp sang lúa.

Phối hợp với chlormequat

Giao thức AHDB cho lúa mì vụ đông có hai cách: chia hai lần (chlormequat “3C Chlormequat 750” 1,0 lít/ha ở GS25–30 kèm Moddus 0,1 lít/ha nếu phun đúng GS30, rồi chlormequat 1,0 lít/ha kèm Moddus 0,1–0,2 lít/ha ở GS31–32) hoặc một lần (chlormequat 1,5–2,0 lít/ha kèm Moddus 0,1–0,2 lít/ha ở GS30–31). Không phun khi đã qua GS32; chỉ thêm Moddus khi cây không stress và nguy cơ đổ ngã đáng kể.

Ở Alberta (2017), giống AAC Brandon dù xếp hạng chống đổ “rất tốt” vẫn đứng kém khi không xử lý và cải thiện rõ khi dùng chlormequat hoặc chlormequat + trinexapac; trong khi giống Stettler và AAC Redwater không cần PGR. Nhà vườn cần nguyên liệu chlormequat có thể tham khảo Chlormequat clorua (CCC) 98%; với lúa nước có Combo cứng cây lúa. Hai sản phẩm này không chứa trinexapac-ethyl.

Rủi ro và khi nào không nên phun

  • Cây đang stress: AHDB nêu các hạn chế như đất nghèo dinh dưỡng, cây bị thuốc cỏ gây hại, bị hạn, úng, ruộng gieo quá muộn.

  • Phun sai thời điểm: lúa nước phun muộn 14 ngày sau phân hóa đòng giảm năng suất ngay ở liều thấp nhất; lúa mì xuân phun ở GS30–32 tổn thương nhiều hơn GS37.

  • Liều cao: 48 g/ha làm giảm năng suất lúa nước.

  • Phun khi không cần: theo Alberta, PGR có thể làm tăng hoặc giảm năng suất tùy mức đổ ngã, thời tiết, loài và giống; giống cao chưa chắc cần PGR.

Lưu ý an toàn

Chỉ dùng sản phẩm có đăng ký cho đúng cây trồng; đọc kỹ nhãn về liều, giai đoạn, lượng nước và phối trộn. Mang găng tay, kính, khẩu trang khi pha, phun; không phun khi gió mạnh. Tuân thủ thời gian cách ly trước thu hoạch ghi trên nhãn. Người trồng hướng xuất khẩu cần kiểm tra mức dư lượng tối đa (MRL) của thị trường mua. Nên thử trên diện tích nhỏ trước.

Tóm lại

  • Trinexapac-ethyl chặn bước 3β-hydroxyl hóa GA20 thành GA1, làm lóng ngắn, thân chắc.

  • Lúa mì, lúa mạch: phun trong khung GS30–32 đến GS37 tùy vụ và nhãn; Minnesota thấy 125 g/ha ở GS37 hợp với lúa mì xuân.

  • Lúa nước nhạy hơn: phun muộn hoặc 48 g/ha làm giảm năng suất.

  • Hay phối với chlormequat; không phun khi cây stress.

Cần tư vấn chọn chất điều hòa sinh trưởng phù hợp, nhà vườn liên hệ CVGreen qua số tư vấn trên website.

Tài liệu tham khảo: Rademacher W. (2000), Growth retardants: effects on gibberellin biosynthesis and other metabolic pathways, Annual Review of Plant Physiology and Plant Molecular Biology; Alberta Agriculture and Forestry (2018), Plant Growth Regulators: What Agronomists Need to Know; AHDB (2023), Cereal PGR Protocol; Wiersma và cs. (2011), Agronomy Journal; Corbin và cs. (2016), Agronomy Journal.

Ảnh minh họa: Spedona, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).

CVGreen chlormequat chất ức chế sinh trưởng chống đổ ngã lúa chống đổ lúa mì lúa mạch thang Zadoks trinexapac-ethyl ức chế gibberellin

Tính pha