Bỏ qua tới nội dung chính
Miễn phí vận chuyển đơn từ 800.000đ (đơn hàng nặng: từ 80.000đ/kg). Đơn chưa đạt: phí vận chuyển theo thực tế.
Đăng nhập 0 Giỏ hàng

Jasmonate PDJ, MeJA lên màu đỏ táo, nho: liều, thời điểm, rủi ro

Kỹ thuật hoóc-môn sinh trưởng

Cây táo sai quả đỏ, quả phía hướng nắng lên màu đỏ đậm

PDJ và MeJA kích vỏ táo, nho tổng hợp anthocyanin. Cơ chế, liều và thời điểm đã thử nghiệm, so sánh với ABA, ethephon và các rủi ro khi dùng quá liều.

Táo đỏ, nho đỏ thường lên màu kém khi trời nóng, quả khuất trong tán hoặc giống vốn khó màu. Ngoài ethephon và S-ABA, nhà vườn còn nhóm jasmonate: methyl jasmonate (MeJA) có sẵn trong cây và prohydrojasmon (PDJ), chất tổng hợp tương tự axit jasmonic. Bài này nói riêng về tác dụng làm đỏ vỏ quả: cơ chế, liều đã thử, phối hợp với ABA, ethephon và rủi ro.

Jasmonate làm đỏ vỏ quả bằng cách nào

Màu đỏ, tím trên vỏ táo và nho chủ yếu do anthocyanin. Gen tổng hợp sắc tố được bật bởi phức hợp ba protein điều hòa (MYB, bHLH, WD40). Khi chưa có tín hiệu, protein JAZ bám vào và giữ phức hợp ở trạng thái "tắt". Jasmonate làm JAZ bị phân hủy, phức hợp được giải phóng và gen anthocyanin hoạt động. Cơ chế này đã được chứng minh trên táo xử lý MeJA.

Jasmonate không thay được ánh sáng. Nghiên cứu của NARO (Nhật Bản) cho thấy hơi MeJA làm nho tăng màu dưới chu kỳ sáng – tối nhưng không tác dụng khi để trong tối liên tục.

Kết quả trên táo

Hướng dẫn trên nhãn đăng ký tại Mỹ

Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) đã đăng ký PDJ giúp táo đỏ lên màu (nhãn Blush 10 EC, 10% hoạt chất) và từ năm 2013 miễn yêu cầu mức dư lượng tối đa cho PDJ dùng trước thu hoạch trên táo, nho. Nhãn hướng dẫn:

  • Nồng độ 120–480 ppm PDJ, phun 1–2 lần/năm; giống dễ màu, thời tiết thuận dùng mức thấp, giống khó màu hoặc thời tiết bất lợi dùng mức cao.

  • Lần 1 phun 30–42 ngày trước thu hoạch dự kiến (tốt nhất khoảng 35 ngày), lần 2 cách lần 1 từ 7–21 ngày (tốt nhất 7–14 ngày).

  • Quả phải đã bắt đầu lên màu tự nhiên trước lần phun đầu.

  • Phun lúc thuốc khô chậm (sáng sớm, ban đêm); không phun cây đang stress do nóng, thiếu nước, bệnh, thiếu dinh dưỡng.

  • Nơi vốn đã đủ màu, có thể không tăng thêm màu đáng kể.

Thử nghiệm so sánh PDJ, ABA và ethephon

Ở São Joaquim (Brazil), nhóm Brighenti phun táo Gala khoảng 20 ngày trước thu hoạch với PDJ 400 mg/L, ABA 400 mg/L hoặc ethephon 300 mg/L. Tỷ lệ vỏ đỏ ở lô PDJ đạt 64,1% cả hai năm, so với 51,1% và 35,1% ở đối chứng; ABA đạt 59,3% và 66,9%; ethephon 75,3% và 68,6%. Không chất nào làm đổi độ Brix hay khối lượng quả; riêng ethephon làm quả mềm hơn ở năm thứ hai.

Kết quả trên nho

  • Quả tách rời (Nhật Bản): nho Pione hái lúc chớm màu, ngâm trong JA, MeJA hay PDJ 500 µM đều tăng anthocyanin ngang hoặc hơn ABA 500 µM. Hơi MeJA trên chùm đã hái làm anthocyanin tăng hơn gấp đôi đối chứng, không đổi độ Brix. Đây là thí nghiệm sau thu hoạch; các nguồn đã đọc không nêu liều PDJ phun ngoài vườn cho nho.

  • Phun ngoài vườn (Tây Ban Nha): trên nho ăn tươi Magenta và Crimson, MeJA 0,01–1 mM phun ở các mốc phát triển chùm làm quả chín, lên màu sớm hơn, tốt nhất 0,1 mM (khoảng 22 mg/L). Liều 5 và 10 mM lại làm chậm chín, quả nhỏ, giảm năng suất, có chùm không đạt thương phẩm.

Phối hợp với ABA và ethephon

  • Với ABA: jasmonate không làm tăng ABA nội sinh trong vỏ nho, nên nhóm NARO cho rằng nó đi theo con đường riêng. Một số xử lý ABA quanh lúc chuyển màu được ghi nhận làm quả mềm.

  • Với ethephon: trên táo, ethephon cho màu mạnh nhất nhưng có năm làm giảm độ cứng; PDJ màu thấp hơn, không ghi nhận làm mềm quả.

  • Phun chung: chưa có thí nghiệm phối PDJ với ABA hay ethephon trong các nguồn đã đọc; không tự cộng liều, muốn kết hợp thì thử vài hàng cây trước.

Rủi ro và giới hạn

  • Quá liều MeJA trên nho (5–10 mM) gây chín chậm, quả nhỏ, giảm năng suất.

  • Thiếu sáng: quả trong bóng râm, trong túi bao đáp ứng kém; muốn phun phải tháo túi rồi bao lại.

  • Đỏ chưa chắc đã chín: PDJ không tăng độ Brix, vẫn thu hoạch theo chỉ tiêu độ chín.

  • Cây yếu, trời nóng: nhãn khuyến cáo không phun khi cây đang bị stress.

  • Pháp lý: chỉ dùng sản phẩm được đăng ký tại Việt Nam cho đúng cây; liều nước ngoài chỉ để tham khảo.

Lưu ý an toàn

  • Nhãn PDJ tại Mỹ cảnh báo: có hại nếu nuốt phải hoặc thấm qua da, kích ứng mắt vừa phải.

  • Mặc áo dài tay, quần dài, găng chống thấm, giày tất, đeo kính khi pha, phun; rửa tay sau khi làm.

  • Tuân thủ thời gian vào lại vườn và thời gian cách ly ghi trên nhãn sản phẩm đang dùng.

Tóm lại

Jasmonate giúp vỏ táo, nho tạo thêm anthocyanin nhưng chỉ phát huy khi quả đã chớm màu và đủ sáng. Trên táo, nhãn Mỹ cho PDJ 120–480 ppm, phun lần đầu khoảng 35 ngày trước thu hoạch; trên nho, MeJA liều thấp (khoảng 0,1 mM) có lợi, liều cao gây hại. PDJ ít làm mềm quả hơn ethephon nhưng màu cũng kém hơn.

Cần tư vấn chọn chất điều hòa sinh trưởng phù hợp, nhà vườn liên hệ CVGreen qua số tư vấn trên website.

Tài liệu tham khảo: US EPA – Nhãn Blush 10 EC (prohydrojasmon, 2017) và quy định miễn mức dư lượng tối đa cho prohydrojasmon (Federal Register, 2013); Brighenti và cộng sự – Plant growth regulators to enhance fruit color of Gala apples (Pesquisa Agropecuária Brasileira, 2017); Nakajima, Inoue, Koshita (NARO) – Effects of exogenous methyl jasmonate and light condition on grape berry coloration and endogenous abscisic acid content (Journal of Pesticide Science, 2021); García-Pastor và cộng sự – Oxalic acid preharvest treatment improves colour and quality of seedless table grape Magenta (Frontiers in Plant Science, 2021); LaFountain, Yuan – Repressors of anthocyanin biosynthesis (New Phytologist, 2021).

CVGreen PDJ anthocyanin chất điều hòa sinh trưởng jasmonate lên màu nho lên màu táo methyl jasmonate prohydrojasmon tăng màu đỏ trái cây

Tính pha