Paclobutrazol, uniconazole trên bơ: hãm đọt xuân lúc ra hoa
Phun paclobutrazol, uniconazole lúc bơ ra hoa để hãm đọt xuân tranh ăn với trái non: thời điểm, kết quả ở Úc, Nam Phi, California, Brazil, rủi ro và quy định đăng ký.
Ở bơ Hass, nhiều chùm hoa thuộc loại không xác định: đỉnh chùm hoa mọc tiếp thành đọt lá mới (đọt xuân) đúng lúc hoa nở và trái non vừa đậu. Đọt non và trái non tranh nhau dinh dưỡng; cây quá sung thì trái dễ rụng, ít canxi. Các nhóm nghiên cứu ở Úc, Nam Phi, California và Brazil đã thử phun paclobutrazol, uniconazole lúc bơ ra hoa để hãm đọt xuân, với kết quả không đồng nhất.
Cơ chế: rút ngắn lóng, không bớt số đọt
Paclobutrazol và uniconazole thuộc nhóm triazole, ức chế tổng hợp gibberellin, hoóc-môn điều khiển sự vươn dài của lóng. Vì vậy chúng làm lóng ngắn lại, còn số đọt mới, số lá và kích thước lá gần như không đổi (Oosthuyse, 2021). Ở Queensland, cây được phun có trọng lượng khô của lá và thân đọt giảm, phần chất khô dồn cho trái tăng (Whiley và cộng sự, 1992).
Thời điểm phun
Thử nghiệm có kết quả tốt ở Úc phun khi khoảng 50% hoa đã nở, phun ướt đẫm tới khi nhỏ giọt, có chất hoạt động bề mặt không ion 0,05%. Ở Brazil, phun lúc hoa nở rộ, khi hơn 50% bề mặt tán có hoa nở.
Ở California, phun mùa xuân chỉ làm đọt ngắn đi tối đa 6–8 cm, lóng bị nén thường dãn lại sau 2–4 tuần, không tăng đậu trái; theo Lovatt (2014), phải chặn đọt từ khi còn rất non mới bớt được cạnh tranh.
Lá bơ hấp thu chất điều hòa sinh trưởng kém, nên nồng độ thí nghiệm cao hơn hẳn cây ăn trái khác (Lovatt, 2005); đừng chép liều từ cây khác sang bơ.
Kết quả nghiên cứu
Úc (Queensland)
Whiley và cộng sự (1992) phun paclobutrazol 0,62; 1,25 và 2,5 g hoạt chất/lít lúc khoảng 50% hoa nở, hai năm liền trên cây Hass. Đọt xuân ngắn đi 44%, diện tích lá giảm 37%. Ở mức 2,5 và 1,25 g/L, trái to hơn khoảng 16% và 11%. Năng suất từng năm không khác biệt có ý nghĩa, nhưng năng suất cộng dồn hai năm ở mức 0,62 và 1,25 g/L cao hơn đối chứng khoảng 63%. Chính các tác giả cảnh báo: trên cây thiếu dinh dưỡng, thiếu nước, thừa clo trong lá hay bị thối rễ, chất này lại làm giảm năng suất và chất lượng trái.
Nam Phi (Tzaneen)
Oosthuyse (2021) phun chế phẩm paclobutrazol 250 g/L ở nồng độ 0,7% (v/v) lúc ra hoa trên giống Maluma Hass. Đọt mới ngắn đi khoảng 20% nhưng số đọt không giảm. Trái rụng nhiều hơn, tròn hơn và nặng hơn (333 g so với 294 g), nhưng vì ít trái nên năng suất giảm khoảng 10%. Tác giả kết luận paclobutrazol phun lúc ra hoa hoạt động như chất tỉa trái và không ủng hộ cách làm này.
California
Lovatt (2014) thử một công thức uniconazole-P mới ở liều gợi ý của nhãn Sunny, phun vào xuân, hè, thu hoặc đông tại hai vườn Hass. Hiệu quả thất thường vì cây luôn có đọt ở nhiều giai đoạn. Mọi lần phun đều gây quăn, cụp lá; phun hè làm cháy lá; phun thu làm cây ra hoa trái vụ. Ở một vườn, năng suất giảm 33% (phun hè) và 54% (phun đông), trái nhỏ đi. Tác giả kết luận không thể tăng liều vì thiệt hại sẽ lớn hơn.
Brazil (vườn không tưới)
Brogio và cộng sự (2018) phun paclobutrazol 1.750 mg/L hoặc uniconazole 350 mg/L lúc hoa nở rộ, ba năm liền (năm hạn 2014 hạ liều). Năng suất và mức ra trái cách năm không đổi. Uniconazole hãm đọt mạnh nhất (giảm 10–34% tùy năm), hiệu quả phụ thuộc lượng nước; trái nặng hơn ở một số năm.
Rủi ro cần cân nhắc
Rụng trái: paclobutrazol có thể tỉa bớt trái, làm giảm năng suất.
Đổi hình dạng trái: ở Nam Phi, trái tròn hơn, theo tác giả là dấu hiệu hoạt chất đã đi vào trái; ở Brazil, các chất ức chế gibberellin làm tăng đường kính trái ở hai trong ba năm.
Hại lá, kết quả thất thường: quăn, cháy, rụng lá, hoa trái vụ khi phun sai mùa; hiệu quả phụ thuộc sức cây và nước, cây yếu phản ứng xấu.
Quy định đăng ký
Ở California, muốn ghi công dụng cho bơ trên nhãn, chất điều hòa sinh trưởng phải có số liệu hiệu lực 2–4 năm và chứng minh đáp ứng theo liều với cơ quan quản lý của bang (Lovatt, 2005); công thức uniconazole-P thử năm 2014 phải bỏ một thành phần bị hạn chế mới có thể xin phép. Vì hoạt chất có thể vào trái, chỉ dùng chế phẩm có đăng ký cho bơ tại nơi sản xuất và kiểm tra giới hạn dư lượng tối đa (MRL) của thị trường mua hàng.
Uniconazole 95% là nguyên liệu kỹ thuật, không phải chế phẩm có hướng dẫn cho bơ; mọi nồng độ trong bài là số liệu thí nghiệm, không phải khuyến cáo.
Lưu ý an toàn
Đọc kỹ nhãn: cây trồng được phép, liều, số lần phun, thời gian cách ly trước thu hoạch.
Mang găng tay, kính, khẩu trang, áo dài tay khi cân, pha và phun.
Thử trên vài cây trọn một vụ trước khi mở rộng; không phun cây đang suy, thiếu nước, thối rễ.
Tóm lại
Hãm đọt xuân lúc bơ ra hoa nhằm bớt cạnh tranh giữa đọt non và trái non. Ở Úc, paclobutrazol từng giúp trái to, tăng năng suất cộng dồn trên cây khỏe; ở Nam Phi và California lại làm rụng trái, giảm năng suất, hại lá; ở Brazil năng suất không đổi. Chỉ dùng chế phẩm có đăng ký cho bơ, thử quy mô nhỏ trước.
Cần tư vấn chọn chất điều hòa sinh trưởng phù hợp, nhà vườn liên hệ CVGreen qua số tư vấn trên website.
Tài liệu tham khảo: Whiley, Saranah và Wolstenholme – Effect of Paclobutrazol Bloom Sprays on Fruit Yield and Quality of cv. Hass Avocado Growing in Subtropical Climates (Hội nghị Bơ Thế giới II, 1992); Oosthuyse – Effect of paclobutrazol and potassium nitrate sprays at flowering in Maluma Hass avocado (Niên giám Hiệp hội Người trồng bơ Nam Phi, 2021); Lovatt – Studies on the efficacy of a new formulation of Uniconazole-P (Ủy ban Bơ California, 2014); Lovatt – Plant Growth Regulators for Avocado Production (Niên giám Hội Bơ California, 2005); Brogio và cộng sự – Influence of gibberellin inhibitors applied during flowering of nonirrigated Hass avocado trees (Pesquisa Agropecuária Brasileira, 2018).
Ảnh minh họa: A16898, Wikimedia Commons (CC BY-SA 3.0).
CVGreen bơ Hass chất điều hòa sinh trưởng chất ức chế sinh trưởng cây bơ hãm đọt paclobutrazol triazole uniconazole đậu trái bơ