Triacontanol: cơ chế, thử nghiệm trên lúa, kết quả không đồng đều
Triacontanol hoạt động ở nồng độ nanomolar. Tổng hợp cơ chế đề xuất, thử nghiệm trên lúa, dâu tây và lý do kết quả giữa các nghiên cứu khác nhau.
Triacontanol (TRIA) là một rượu béo mạch dài 30 carbon, có trong lớp sáp phủ ngoài của nhiều loài cây. Từ khi được báo cáo năm 1977 là làm tăng sinh trưởng và năng suất, nó được dùng trên diện tích lớn ở châu Á, nhưng kết quả ngoài đồng chưa bao giờ đồng đều. Bài này tóm tắt cơ chế, thử nghiệm trên lúa, dâu tây và lý do kết quả khác nhau.
Cơ chế: giả thuyết chất truyền tin thứ hai
Điểm đặc biệt của triacontanol là hoạt động ở nồng độ nano mol (nanomolar), tức cực loãng. Nhóm nghiên cứu của Stanley Ries tại Đại học bang Michigan đã mô tả như sau:
Năm 1991, nhóm này xác định một chất truyền tin thứ hai, gọi là TRIM, xuất hiện nhanh trong lúa sau khi xử lý triacontanol, và là 9-β-L(+)-adenosine. Chất này ở nồng độ nanomolar khiến cây phản ứng giống triacontanol; điểm tác động đầu tiên vẫn chưa xác định.
Năm 1993, cùng nhóm cho thấy chỉ vài picomol L(+)-adenosine phun lên lá cà chua, ngô và dưa chuột làm nồng độ Ca, Mg, K trong dịch tiết tăng 20 đến 60% trong vòng 5 giây, rồi giảm lại. Dạng D(-)-adenosine không có tác dụng và còn ngăn dạng L(+). Với cà chua, tác dụng của chính triacontanol chỉ phát hiện được sau khoảng 5 phút.
Một bài tổng quan về sau nhận định nguồn gốc L(+)-adenosine chưa rõ.
Năm 1981 Knowles và Ries ghi nhận đạm tổng số ở lúa và ngô tăng trong 30 đến 80 phút sau xử lý, nhưng không giải thích được bằng các con đường đồng hóa đạm đã biết; họ nghĩ đến khả năng phép phân tích bị ảnh hưởng. Cơ chế vì thế vẫn còn nhiều điểm mở.
Thử nghiệm trên lúa
Madurai, Ấn Độ: phun lá triacontanol 2 ppm ở 35 và 65 ngày sau cấy, trong vụ rabi muộn khi thiếu ánh sáng, làm tăng chỉ số diện tích lá, hàm lượng diệp lục và năng suất. Năng suất đạt khoảng 6.346 kg/ha (vụ 1997-98) và 6.410 kg/ha (vụ 1998-99); đây là nghiệm thức hiệu quả nhất, trên 6-BA 20 ppm và dịch chiết lá.
Nam Kinh, Trung Quốc (Frontiers in Plant Science, 2016): phun 1, 5 hoặc 10 µM lên mạ 2 ngày trước cấy máy, thí nghiệm trong thùng ngoài trời một vụ. Ở 10 µM, hàm lượng H2O2 giảm 40,6% sau 4 ngày; theo phần tóm tắt, số bông tăng 17,8% và năng suất mỗi khóm tăng 16,5%. Số hạt mỗi bông và khối lượng hạt không đổi. Tác giả giải thích bằng giảm stress oxy hóa khi hồi xanh; chưa thử ngoài đồng.
Thử nghiệm trên dâu tây và rau
Dâu tây cho một ví dụ rõ về việc kết quả có thể khác nhau:
Nghiên cứu năm 1985 (HortScience) trên dâu tây vụ xuân, tưới gốc lúc trồng và phun lá lúc ra hoa đầu, nồng độ 0,1 đến 5,0 mg/L: tổng năng suất không đổi. Chỉ ở 2,00 mg/L khối lượng quả tươi tăng có ý nghĩa; thành phần quả không đổi.
Nghiên cứu năm 2022 (Plants) tại Ai Cập trên dâu tây trong điều kiện thiếu nước: phun 1 ppm năm lần cách nhau 15 ngày làm tổng năng suất mỗi cây tăng 12,7% so với đối chứng; mức 0,5 ppm cũng được thử. Đây là hai vụ tại một địa điểm.
Với rau, bằng chứng đã kiểm chứng trong bài chủ yếu là sinh lý (cà chua, dưa chuột năm 1993, phản ứng ion sau vài giây), không phải năng suất. Số liệu năng suất rau gặp trên mạng chưa kiểm chứng được bản gốc nên không đưa vào.
Vì sao kết quả không đồng đều
Các thí nghiệm khác nhau ở vài điểm sau; chưa có thí nghiệm nào so sánh trực tiếp, nên đây là nhận xét thận trọng:
Điều kiện cây: nhiều kết quả tích cực xuất hiện khi cây chịu stress (lúa thiếu sáng, lúa sau cấy máy, dâu tây thiếu nước). Thí nghiệm dâu tây 1985 không nêu stress và không thấy tăng tổng năng suất.
Nồng độ và số lần phun: các nghiên cứu dùng từ 0,1 mg/L đến cỡ 10 µM (khoảng 4 mg/L), từ 1 đến 5 lần phun. Ở dâu tây 1985 chỉ một mức trong dãy cho thay đổi.
Chỉ tiêu đo: có nghiên cứu thấy số bông tăng nhưng khối lượng hạt không đổi; có nghiên cứu thấy quả nặng hơn nhưng tổng năng suất không đổi.
Quy mô: nhiều kết quả khả quan là thí nghiệm thùng hoặc một địa điểm, một đến hai vụ.
Lưu ý an toàn
Triacontanol dùng ở liều rất loãng; pha đúng theo hướng dẫn trên nhãn sản phẩm, không tự tăng nồng độ.
Thử trên ít cây trước khi phun diện rộng; dùng đồ bảo hộ, theo dõi thời gian cách ly trên nhãn.
Không coi triacontanol thay cho dinh dưỡng, tưới tiêu và phòng trừ sâu bệnh.
Nhà vườn quan tâm đến nguyên liệu này có thể tham khảo Triacontanol 1.5 EP và bộ phối trộn tham khảo COMBO MẬP, nhưng nên thử quy mô nhỏ để tự đánh giá hiệu quả.
Tóm lại
Triacontanol hoạt động ở nồng độ nanomolar; giả thuyết được nêu nhiều nhất là chất truyền tin L(+)-adenosine, nhưng điểm tác động đầu tiên chưa rõ.
Có kết quả tích cực trên lúa và dâu tây (nhất là khi cây bị stress), và có thí nghiệm dâu tây không làm đổi tổng năng suất.
Cần tư vấn chọn chất điều hòa sinh trưởng phù hợp, nhà vườn liên hệ CVGreen qua số tư vấn trên website.
Tài liệu tham khảo: Ries và cs., Plant Physiology (1991), chất truyền tin thứ hai của triacontanol ở lúa; Ries và cs., Plant Physiology 101 (1993), xung ion sau khi phun L(+)-adenosine; Knowles và Ries, Plant Physiology 68 (1981); Naeem, Khan và Moinuddin, Journal of Plant Interactions 7 (2012), tổng quan về triacontanol; Li và cs., Frontiers in Plant Science 7:872 (2016); Anandhakrishnaceni và cs., Madras Agricultural Journal 89; HortScience 20(1) (1985), triacontanol trên dâu tây; El-Beltagi và cs., Plants 11:1913 (2022).
Ảnh minh họa: Undeka 11, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).
CVGreen L-adenosine TRIA chất điều hòa sinh trưởng dâu tây hoóc-môn thực vật kích thích sinh trưởng phun lá triacontanol triacontanol trên lúa