GA3 trên nho ăn tươi không hạt: kéo dài chùm, to quả, rủi ro
Phun GA3 trước hoa, lúc hoa hay sau đậu quả cho kết quả khác nhau. Tổng hợp thử nghiệm của UC về kéo chùm, định cỡ quả và các rủi ro.
Gibberellin gắn liền với nho không hạt từ hơn sáu thập niên nay. Cùng một hoạt chất nhưng tùy thời điểm phun mà tác dụng đổi hẳn: kéo dài trục chùm, làm thưa quả, hoặc làm quả to hơn. Phun sai lúc dễ cho kết quả ngược. Bài này tổng hợp từ các tài liệu của Khuyến nông Đại học California (UC Cooperative Extension) để nhà vườn thấy rõ cái được và cái mất của từng lần phun.
GA3 tác động lên nho như thế nào
Theo tài liệu của cố vấn nho Bill Peacock (UC Tulare), gibberellin được phát hiện từ bệnh “lúa von” ở Nhật năm 1926, do nấm Gibberella fujikuroi tiết ra. Trên nho, GA3 chủ yếu tác động vào sự giãn dài và phân chia tế bào. Có ba “cửa sổ” phun chính: trước hoa 2–3 tuần (kéo chùm), lúc nở hoa (làm thưa), và sau đậu quả (định cỡ).
Phun kéo dài chùm trước nở hoa
Peacock mô tả trên giống Flame Seedless: mục tiêu của lần phun trước hoa 2–3 tuần là kéo dài chùm và giảm độ chặt. Kết quả khiêm tốn hơn kỳ vọng. Chùm được phun lớn nhanh thấy rõ ngay sau khi phun, nhưng chùm đối chứng nhanh chóng đuổi kịp, nên đến thu hoạch chùm không thưa hơn. Ngày thu hoạch cũng không sớm lên.
Phun lúc nở hoa để làm thưa chùm
Peacock cho biết trên Flame Seedless, GA3 phun trong thời kỳ hoa làm giảm số quả đậu, hiệu quả phụ thuộc nhiệt độ (giảm mạnh nhất khi trời nóng, khoảng 90 độ F, tức hơn 32 độ C). Thời điểm tối ưu là lúc 40–80% hoa đã nở; phun sớm hoặc muộn hơn nhiều thì hiệu quả giảm nhanh. Ở vườn trẻ, sinh trưởng mạnh, gặp trời nóng thì dễ rụng quả quá mức nên cần giảm liều.
Nhóm của Jennifer Hashim (UC Cooperative Extension, Bakersfield) thử nghiệm năm 2008–2009 trên hai giống Scarlet Royal và Sweet Scarlet, với lượng nước 2.000 lít/ha. Trên Scarlet Royal, một lần phun 2,0–10 mg/L lúc 50–60% hoa giảm độ chặt chùm khoảng 19–29%. Phun hai lần (50–60% và 80–90% hoa) không tốt hơn một lần, mà còn làm quả lép nhiều hơn.
Phun định cỡ quả sau đậu: lợi và hại
Thompson và Flame Seedless: theo Peacock, Thompson đáp ứng với GA3 cả giai đoạn từ hết hoa đến lúc đậu quả; Flame thì không. Flame đáp ứng khi quả đường kính khoảng 5–6 mm, và phun muộn hơn tối đa hai tuần (quả 9–10 mm) cho mức tăng cỡ tương đương; quá hai tuần thì hiệu quả giảm mạnh.
Sweet Scarlet (có khoanh vỏ): trong thí nghiệm của Hashim, khoanh vỏ cộng GA3 phun sớm (quả 4–7 mm) ở 10, 20, 30, 40 mg/L tăng khối lượng quả khoảng 26, 24, 22 và 30% tại một vườn, và khoảng 30, 40, 40 và 44% tại vườn còn lại. Riêng khoanh vỏ đã tăng khoảng 22%, và mức 10, 20, 30 mg/L cho kết quả tương đương nhau, nghĩa là tăng liều không đem thêm lợi ích rõ rệt.
Crimson Seedless: thí nghiệm của Nick Dokoozlian (UC Tulare, 1995–1996) cho thấy phun lúc nở hoa đã tăng khối lượng quả khoảng 10%; phun định cỡ thêm 40 g/acre lúc quả 4–5 mm chỉ nâng lên khoảng 15% so với đối chứng, trong khi tác dụng phụ rõ rệt (xem bên dưới). Kết luận của tác giả: lợi ích của phun định cỡ trên giống này rất ít.
Các rủi ro đã được ghi nhận
Màu quả kém đi. Ở Crimson Seedless, một lần phun định cỡ 20 hoặc 40 g/acre làm tỷ lệ chùm đủ màu để thu hoạch giảm từ 68% xuống 58–59%. Peacock cũng ghi nhận ethephon chỉ khắc phục được một phần.
Rụng quả. Cũng ở Crimson Seedless, tỷ lệ quả rụng khi thử rơi tăng từ 22% lên 36–38% và lực giữ cuống giảm khi phun 20–40 g/acre lúc đậu quả. Ở thí nghiệm Hashim, kết quả không nhất quán giữa các vườn.
Giảm số chùm vụ sau. Rủi ro này dễ bị bỏ qua. Ở Crimson Seedless, phun 40 g/acre lúc đậu quả làm số chùm vụ sau giảm 77% ở cây cắt tỉa đòn dài và 43% ở cây cắt đòn ngắn. Trên Sweet Scarlet, phun sớm 20–30 mg/L giảm số chùm vụ sau 17–26%, còn 40 mg/L giảm 37–39%.
Chín muộn. Ở một vườn Sweet Scarlet, GA3 định cỡ làm giảm độ Brix và độ chua, mức chậm chín tăng theo nồng độ.
Nồng độ: đọc đúng các con số
Các con số trên là nồng độ đã thử nghiệm ở California, trên từng giống, kèm khoanh vỏ, tỉa chùm và chăm sóc riêng. Hashim nhắc rằng liều và thời điểm phụ thuộc rất nhiều vào giống, vùng trồng và mục tiêu. Đừng áp thẳng sang giống hay khí hậu khác; pha theo nhãn sản phẩm và thử vài hàng trước.
Lưu ý an toàn
Đọc kỹ nhãn: liều, thời gian cách ly trước thu hoạch; dùng đồ bảo hộ, cân bột chính xác vì liều rất nhỏ.
Ghi chép ngày phun, giai đoạn hoa, nhiệt độ, nồng độ; theo dõi cả số chùm vụ kế tiếp.
Tóm lại
GA3 là công cụ mạnh trên nho không hạt nhưng đáp ứng rất khác nhau giữa giống. Phun kéo chùm trước hoa không làm chùm thưa hơn lúc thu hoạch; phun lúc hoa làm thưa chùm nhưng phun lặp dễ gây quả lép; phun định cỡ có thể tăng khối lượng quả khoảng 10–40% tùy giống và có khoanh vỏ, đổi lại là rủi ro về màu, rụng quả và số chùm vụ sau. Nhà vườn tìm nguyên liệu gibberellin có thể tham khảo GA3 40% tan trong nước hoặc GA3 90%.
Cần tư vấn chọn chất điều hòa sinh trưởng phù hợp, nhà vườn liên hệ CVGreen qua số tư vấn trên website.
Tài liệu tham khảo: Hashim J.M. và cộng sự, “Influence of gibberellic acid applied at bloom and berry set on fruit quality of ‘Scarlet Royal’ and ‘Sweet Scarlet’ table grapes”, UC Cooperative Extension, Table Grape Plant Growth Regulator Workshop, 2010; Dokoozlian N., “Influence of gibberellic acid berry sizing sprays on Crimson Seedless table grape”, UC Cooperative Extension Tulare County, TB12-98; Peacock B., “Gibberellin and Flame Seedless grapes”, UC Cooperative Extension Tulare County, TB14-00.
CVGreen GA3 trên nho gibberellin cho nho hoóc-môn thực vật kéo dài chùm nho làm to quả nho nho không hạt nồng độ GA3 rủi ro GA3 thưa chùm nho