GA4+7 kết hợp 6-BA trên táo: kéo dài quả, dáng quả, rủi ro
GA4+7 phối 6-BA (kiểu Promalin) có kéo dài quả táo được không? Tóm tắt thời điểm phun, nồng độ đã thử nghiệm, kết quả trái chiều và rủi ro thưa quả, rám vỏ.
Quả táo tây thon dài, đáy có năm thùy nổi rõ thường được giá hơn quả tròn dẹt. Thời tiết ấm sau hoa dễ làm quả dẹt, nên người trồng tìm đến hỗn hợp GA4+7 với 6-BA (thương phẩm điển hình là Promalin) để kéo quả dài ra. Bài này tóm tắt điều tài liệu khoa học ghi nhận, kể cả những thí nghiệm không ra kết quả. Cần nói rõ: dữ liệu ở đây là của táo tây (Malus domestica), không phải táo ta (Ziziphus).
Hỗn hợp này tác động lên quả thế nào
Theo mô tả sản phẩm trong các thí nghiệm, Promalin chứa 1,8% GA4+7 và 1,8% 6-BA. Gibberellin thúc tế bào giãn dài, còn 6-BA (cytokinin) thúc tế bào phân chia. Williams và Stahly (1969, trích trong Souza và cs., 1982) ghi nhận trên Red Delicious: tỷ lệ chiều dài/đường kính tăng và các thùy ở đáy quả phát triển rõ, thấy được cả ở 30 và 60 ngày sau xử lý lẫn lúc thu hoạch. Tuy nhiên Letham (1969) thấy phần nhô ở đỉnh quả do cytokinin gây ra lúc đầu có thể biến mất đến thu hoạch ở một số giống.
Thời điểm phun
Hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp Ontario (Canada) nhắm tới các giống vốn có dáng điển hình như Red Delicious, Golden Delicious, Ambrosia, Gala. Lần đầu phun từ lúc hoa chính (king bloom) bắt đầu nở đến đầu rụng cánh; phun sớm hơn hoặc muộn hơn thường kém hiệu quả. Nếu hoa nở kéo dài, chia hai lần cách nhau 3 đến 21 ngày. Nên phun sáng sớm hoặc chiều mát, tránh lúc dự báo mưa trong 6 giờ và ngoài khoảng 24 đến 32°C.
Các thí nghiệm không hoàn toàn thống nhất về mốc tốt nhất. Stembridge và Morrell (1972, giống Ryan Red) thấy hai lần phun trong kỳ hoa hiệu quả hơn một lần, tốt nhất từ nở rộ đến rụng cánh. Ngược lại, Fioravanço và cs. (2010) trên Royal Gala thấy phun lúc rụng cánh cho quả dài và rộng nhất, hơn phun lúc nở rộ.
Nồng độ đã được thử nghiệm
Ontario (khuyến nông): 1,2 đến 2,3 L chế phẩm/ha một lần; hoặc chia hai lần, mỗi lần 0,6 đến 1,2 L/ha.
Fioravanço và cs. 2010 (Royal Gala/M-9, Brazil): 0,5; 1,0; 2,0 mL chế phẩm/L. Mức 2,0 mL/L làm quả dài hơn và tăng tỷ lệ quả cỡ 65 đến 70 mm; năng suất, khối lượng quả và tỷ lệ rám vỏ không đổi.
Tổng quan trong Souza và cs. 1982: 10 đến 100 ppm (Ryan Red), 12,5 đến 200 ppm (Starkrimson, quả dài ra do tăng chiều dài, đường kính gần như giữ nguyên), 50 ppm (nhóm Red Delicious phản ứng tốt, nhưng khác nhau theo giống, giai đoạn hoa và thời tiết).
HortScience 2024 (Pinova): bốn lần phun 20 mg/L, lần đầu lúc nở rộ rồi cách khoảng một tuần; quả dài hơn, đường kính xích đạo không đổi.
Đơn vị giữa các bài không thống nhất (theo chế phẩm hay theo hoạt chất), nên không quy đổi chéo.
Vì sao có nơi hiệu quả, có nơi không
Souza và cs. (1982) phun 0 đến 200 ppm lên cành đang nở của Gala và Fuji ở Santa Catarina (Brazil). Kết quả: chiều dài, đường kính, dạng quả, khối lượng, số hạt, độ cứng, đường và acid đều không đổi đáng kể; chỉ có đường kính vùng lõm đáy quả tăng. Nhóm tác giả cho rằng hoa nở không đều do thiếu lạnh và tỉa quả muộn đã làm nhiễu kết quả. Miller (1979, bang Georgia) ghi nhận kết quả đảo chiều theo địa điểm, giống và năm trong bốn năm thử. Looney (1979) lại thấy phun cả cây trên Spartan hiệu quả hơn chỉ xử lý từng quả.
Rút ra: phản ứng phụ thuộc giống, vụ và điều kiện nhiệt độ sau hoa.
Rủi ro cần tính trước
Rụng và thưa quá mức: theo Ontario, liều hoặc lượng nước cao, hoa yếu hay hoa bị sương giá có thể gây thưa quả; Promalin cũng có thể làm các đợt thuốc tỉa hoa phun sau mạnh hơn dự tính. Tổng lượng 6-BA từ mọi nguồn trong vụ còn bị giới hạn (446 g/ha ở Canada).
Ít hạt: Wertheim (1973) và Taylor (1975) ghi nhận quả xử lý có ít hạt hơn; Modlibowska (1975) gặp quả không hạt ở mức 50 ppm GA4+7 (trích trong Souza và cs.).
Rám vỏ: kết quả trái chiều. Ontario nêu mức 250 đến 500 mL/ha, tối đa bốn lần cách 7 đến 12 ngày, để giảm rám vỏ ở giống nhạy như Golden Delicious (không chặn được rám do sương giá, bệnh hay thuốc). Fioravanço và cs. không thấy khác biệt; còn nhóm nghiên cứu Pinova nghi rằng quả lớn nhanh có thể làm vi nứt lớp cutin nặng thêm.
Dáng quả không giữ đến cuối: phần kéo dài ở quả non có thể tan dần đến thu hoạch (Letham 1969; Souza và cs. 1982).
Lưu ý an toàn
Chỉ dùng chế phẩm được đăng ký cho táo ở nơi sản xuất và theo đúng nhãn, kể cả thời gian cách ly. Đeo đồ bảo hộ khi pha, phun. Khi chưa chắc về giống, hãy thử trên vài cành hoặc vài cây, ghi ngày phun và giai đoạn hoa, rồi đo quả lúc thu hoạch trước khi làm đại trà. Về nguyên liệu, CVGreen có GA4+7 90% và Cytokinin 6-BA 98%, cùng bộ phối trộn tham khảo COMBO 6BA-GA4/7.
Tóm lại
GA4+7 cùng 6-BA có thể kéo quả táo dài và làm rõ thùy đáy, nhưng kết quả không ổn định giữa các thí nghiệm.
Mốc phun nằm quanh giai đoạn nở hoa đến rụng cánh; hoa nở kéo dài thì chia hai lần.
Rủi ro chính là thưa quả, ít hạt và tác động chưa rõ lên rám vỏ.
Nên thử nhỏ trước và đọc nhãn thật kỹ.
Cần tư vấn chọn chất điều hòa sinh trưởng phù hợp, nhà vườn liên hệ CVGreen qua số tư vấn trên website.
Tài liệu tham khảo: Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm và Nông thôn Ontario, hướng dẫn Plant Growth Regulators (mục Promalin trên táo); Souza Z.S. và cs. 1982, Pesquisa Agropecuária Brasileira 17(11):1639-1646; Fioravanço J.C. và cs. 2010, Revista de Ciências Agroveterinárias 9(2):143-149; HortScience 59(7), 2024, "Effects of Promalin on Fruit Growth and Cuticle Properties of Pinova Apple".
Ảnh minh họa: Kor!An (Корзун Андрей), Wikimedia Commons (CC BY-SA 3.0).
6-BA trên táo CVGreen GA4+7 trên táo Promalin chất điều hòa sinh trưởng dáng quả táo gibberellin cytokinin hoóc-môn cho táo kéo dài quả táo phun lúc nở hoa