Dấu hiệu nào cho thấy cây đang bị Paclo ức chế?
Cây dư paclobutrazol (Paclo) hoặc các chất ức chế nhóm triazole thường có lóng ngắn, lá nhỏ, đứng ngọn và chồi không bật. COMBO GIẢI ỨC CHẾ PACLO (bản cải tiến) là công thức tham khảo giúp những cây này sinh trưởng trở lại, đồng thời dùng được cho cây bị suy yếu sau khi ảnh hưởng thuốc trừ cỏ. So với bản trước, bản cải tiến đã bỏ Vitamin B1 và thêm Brassinolide.
Vì sao GA3 có thể giải được ức chế?
Paclobutrazol chặn enzyme ent-kauren oxidase trên con đường cây tự tổng hợp gibberellin. Gibberellin đưa từ ngoài vào thì không phải đi qua bước bị chặn đó; nhờ vậy, theo tài liệu về điều hòa sinh trưởng, GA3 bổ sung có thể làm lóng và chồi của cây bị triazole kìm hãm vươn dài trở lại.
Cần lưu ý: bộ này không phân hủy được lượng paclobutrazol còn tồn trong đất. Nó chỉ giúp cây vượt qua thời gian bị ức chế, trong lúc tồn dư tự giảm dần theo thời gian.
Bốn thành phần và vai trò
Gibberellic Acid 40% (25 g): thành phần chủ đạo, đối kháng trực tiếp tác động của paclobutrazol lên sự sinh trưởng của thân, lá.
DA-6 (25 g): trong nghiên cứu, DA-6 được phun lá ở khoảng 10–40 mg/L; tác dụng được ghi nhận gồm giữ quang hợp, giúp hấp thu dinh dưỡng và giúp cây chịu điều kiện bất lợi tốt hơn.
Triacontanol 1.5 EP (100 g): là một rượu béo có mạch carbon dài; phần lớn nghiên cứu thấy tác dụng ở nồng độ quanh 0,1–1 mg/L, chủ yếu là tăng quang hợp và sinh trưởng.
Brassinolide 0,15% SP (50 g, mới bổ sung): Xia và cộng sự (2009) làm thí nghiệm trên dưa chuột và thấy 24-epibrassinolide giúp cây chuyển hóa nhanh hơn một vài loại thuốc bảo vệ thực vật, nhờ đó tồn dư thấp hơn và quang hợp ít bị hóa chất làm suy giảm.
Pha dung dịch mẹ và liều dùng
Hòa toàn bộ nguyên liệu vào 5 L nước thành dung dịch mẹ. Tính ra, mỗi lít dung dịch mẹ có xấp xỉ: GA3 2 g; DA-6 4,9 g; triacontanol 0,3 g; brassinolide (hoạt chất) 15 mg. Dùng ở mức 2,5 mL/L thì một bộ pha được khoảng 2.000 L dung dịch phun.
| Trường hợp sử dụng | Lượng dung dịch mẹ | GA3 | DA-6 | Triacontanol | Brassinolide |
|---|
| Phun lá cây ăn quả, cây công nghiệp | 2,5 mL/L (500 mL/bồn 200 L) | 5 mg/L | 12 mg/L | 0,75 mg/L | 0,04 mg/L |
| Phun lá cho cây con, rau màu, hoa và cây có trái non | 1,5 mL/L (300 mL/bồn 200 L) | 3 mg/L | 7 mg/L | 0,45 mg/L | 0,02 mg/L |
| Tưới gốc (cây hút chất ức chế qua rễ) | 1,5–2,5 mL/L | 3–5 mg/L | 7–12 mg/L | 0,45–0,75 mg/L | 0,02–0,04 mg/L |
Số lần xử lý: 1–2 lần, lần sau cách lần trước 7–10 ngày; chọn lúc cây vẫn giữ được lá xanh hoặc vừa nhú chồi non.
Khi nào không nên dùng và cần lưu ý gì?
Ở nhiều cây ăn quả như xoài, cây có múi…, GA3 kìm sự hình thành hoa: không dùng khi cây đang được xử lý ra hoa, đang phân hóa mầm hoa hoặc đang nở hoa. Nên dùng khi vườn đã thu hoạch xong hoặc khi muốn cây ra đọt.
Với cây còn trái non, giảm xuống mức 1,5 mL/L và làm thử vài cây trước; đọt non mà bung mạnh sẽ giành dinh dưỡng của trái.
Tránh pha chung với các chất hãm sinh trưởng (paclobutrazol, uniconazole, chlormequat, mepiquat) và với chế phẩm có tính kiềm.
Phần mô đã cháy do thuốc cỏ tiếp xúc (paraquat) sẽ không hồi lại; với thuốc cỏ nội hấp (glyphosate) cũng không có chất giải độc đặc hiệu. Điều bộ này làm được chỉ là giúp chồi, lá còn sống tiếp tục phát triển.
Lưu ý chung: đây là bộ nguyên liệu kỹ thuật để bạn tham khảo, chưa phải một sản phẩm thành phẩm. Các nồng độ nêu ở trên lấy theo tài liệu và chỉ có giá trị tham khảo; kết quả thực tế còn tùy giống, giai đoạn sinh trưởng, thời tiết cũng như cách chăm sóc của từng vườn, vì vậy hãy làm thử trên một diện tích nhỏ rồi mới mở rộng.